Thông tin Bảo vệ môi trường

Thứ Hai, ngày 18/11/2019 |

Quản lý môi trường

Không khí ở Việt Nam đang được quản lý như thế nào?

11/10/2019 8:09:23 AM Tình trạng ô nhiễm không khí liên tục đi xuống đặt ra câu hỏi về việc nhà chức trách đang thật sự làm gì để bảo vệ quyền được hít thở không khí trong lành của người dân?

Là người yêu thích chạy marathon từ nhiều năm nay, anh Phạm Sơn (quận Bình Thạnh) rất quan tâm đến chất lượng không khí bởi lượng khí hấp thụ khi chạy bộ gấp 2-3 lần các hoạt động bình thường. Anh cho biết thường sử dụng phần mềm AirVisual để cập nhật thông tin về chất lượng không khí mỗi ngày.


Chuyên gia lý giải một phần nguyên nhân khiến chất lượng không khí đi xuống là việc quản lý kém hiệu quả. Ảnh: Việt Hùng.

Khi được hỏi lý do không cập nhật dữ liệu từ các trạm quan trắc của Nhà nước, anh Sơn thừa nhận do “không biết tìm ở đâu”. “Cơ quan chức năng nên có cảnh báo thực chất đến người dân ngay khi họ phát hiện có vấn đề ô nhiễm không khí chứ không phải chờ đến khi Thủ tướng chỉ đạo mới giải thích”, anh Sơn thể hiện thái độ không hài lòng.

Theo Chỉ số năng lực quản lý môi trường, vị trí xếp hạng của Việt Nam về hoạt động bảo vệ môi trường ngày càng tụt hạng qua các năm. Cụ thể, từ vị trí trung bình 79/132 nước được xếp hạng (2012) tụt xuống 132/180 (2018). Con số này đặt ra câu hỏi về việc nhà chức trách đang làm gì để bảo vệ quyền được hít thở không khí trong lành của người dân?

Mỗi bộ quản lý một loại không khí

Hiện Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) 2014 đã quy định về BVMT không khí cùng với đó là hàng loạt văn bản dưới luật. Tại Quyết định 985a/QĐ-TTg ngày 01/6/2016, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý chất lượng không khí đến năm 2020, tầm nhìn 2025. Thêm vào đó, Việt Nam có Luật Đa dạng sinh học và Luật Thuế Bảo vệ môi trường.

Câu hỏi đặt ra là tại sao chất lượng không khí vẫn tiếp tục đi xuống dù đã có hành lang chính sách về quản lý và kiểm soát chất lượng không khí?

TS Trần Thế Loãn, nguyên Phó cục trưởng Cục Kiểm soát ô nhiễm, Tổng cục Môi trường, cho rằng hiện chính sách quản lý và kiểm soát chất lượng môi trường không khí ở Việt Nam còn phân tán dẫn đến quản lý thiếu hiệu quả.

Cụ thể, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TNMT) chịu trách nhiệm chung về bảo vệ môi trường không khí. Tuy nhiên, đơn vị này chỉ kiểm soát các nguồn thải công nghiệp lớn và cơ sở phát sinh khí thải trọng điểm.

Trong khi đó, Bộ Công thương được giao quản lý các nguồn thải cố định nhưng chỉ kiểm soát đối với doanh nghiệp nhà nước trực thuộc, tức không bao gồm các cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh. Nguồn thải di động do các phương tiện giao thông sẽ do Bộ Giao thông vận tải quản lý. Bộ Xây dựng lại chịu trách nhiệm hoạt động xây dựng đảm bảo bảo vệ môi trường ở các đô thị. Còn Bộ Khoa học và Công nghệ được giao quản lý ban hành tiêu chuẩn về nhiên liệu, thẩm định công nghệ.

TS Võ Trung Tín, Đại học Luật TP.HCM, chỉ ra thêm một nguyên nhân nữa là quy định về xử lý vi phạm pháp luật về ô nhiễm không khí, đặc biệt là xử phạt vi phạm hành chính chưa đủ tính răn đe, nhất là đối với những cơ sở hoạt động quy mô lớn. Cụ thể, mức phạt vi phạm hành chính cao nhất trong Nghị định 155/2016/NĐ-CP đối với cá nhân là 1 tỉ đồng (tổ chức là 2 tỉ đồng).

Chính sách không thiếu nhưng làm đến đâu thì không ai biết

Nhận xét về việc quản lý không khí tại Việt Nam, TS Loãn cho rằng chính sách không thiếu nhưng quản lý thì không thấy. Ông lấy ví dụ ở Hà Nội, dù đã có quy định rõ ràng về việc bảo vệ môi trường ở các công trường xây dựng nhưng trên thực tế không ai kiểm soát. Dẫn đến việc bùn đất từ các công trình này vương vãi khắp nơi gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến chất lượng không khí.

“Các luật hiện tại rất chồng chéo nên tôi cho rằng không nên có các văn bản mới mà phải rà soát lại các văn bản cũ, tổ chức thực hiện, kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện cho tốt. Còn bây giờ nhiều chính sách mà không thực hiện thì nó không có nghĩa lý gì”, TS Loãn nhận định.

Phân tích lý do khiến công tác thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường không khí thiếu hiệu quả, ông Loãn cho rằng có 2 nguyên nhân. Một là trách nhiệm công vụ của các cơ quan nhà nước còn thấp. Việc phân tán nguồn lực quản lý dẫn đến thiếu hiệu quả trong phối hợp cùng với tâm lý của các bộ, ngành sẽ quan tâm đến chức năng chính của họ hơn là mục tiêu bảo vệ môi trường.

Hai là nguồn kinh phí không đầy đủ. “Ví dụ việc cấp kinh phí để xây dựng cơ sở dữ liệu về khí thải nhưng lại không bao gồm kinh phí thống kê, cập nhật cơ sở dữ liệu. Do đó, khi đầu tư xong không có kinh phí duy trì cơ sở dữ liệu thành ra mất tác dụng”, ông Loãn giải thích.

Tán đồng với quan điểm của chuyên gia trên, PGS.TS Hồ Quốc Bằng, Viện Tài Nguyên và Môi Trường, Đại Học Quốc gia TP.HCM, nói thêm rằng dù Việt Nam đã có Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý chất lượng không khí đến năm 2020, tầm nhìn 2025 (Quyết định 985a/QĐ-TTg ngày 01/6/2016) nhưng “làm đến đâu thì không ai biết hết”. “Trung ương làm bao nhiêu tôi không biết nhưng địa phương thì hầu như không thấy làm”, ông Bằng đánh giá.
 
Nguồn: News.zing
Share |

Các tin khác:

Hạt dẻ Trung Quốc gắn mác Sa Pa, sự thật ngã ngửa

Hạt dẻ Trung Quốc gắn mác Sa Pa, sự thật ngã ngửa

Khi thời tiết chuyển sang se lạnh cũng là lúc hạt dẻ rang được bày bán nhiều tại các tuyến đường Hà Nội. Không những vậy, các trang mạng xã hội cũng rao bán rất nhiều loại hạt dẻ như hạt dẻ Trùng Khánh (Cao Bằng), hạt dẻ Sa Pa (Lào Cai), đặc biệt năm nay cũng nhiều người rao bán bánh hạt dẻ Sa Pa. Xem thêm bài khác

Xem các video khác